Chuyện tình Đoàn Văn Vươn.

Chuyện tình của vợ chồng ông Đoàn Văn Vươn (II)

“Anh Vươn luôn nghĩ mình là con cá đối nhỏ bé nhưng luôn đi đầu ngược dòng nước lao ra biển mà chẳng được thưởng chỉ thấy toàn phạt, toàn phải đi đối đầu. Ngày mùng 1 hàng tháng mọi người kiêng dùng cá đối, nhưng anh Vươn luôn nghĩ trời cho mình cái gì thì hãy dùng. Không thể đầu hàng số phận”.

 

Kiếp con cá đối

Niềm vui ngắn chẳng tày gang, đến năm 1996, một cơn bão lớn đổ ập vào Tiên Lãng đã kéo gần như toàn bộ hàng trăm mét đê quai xuống biển chỉ còn sót lại ở phía dưới chân, tan tành tất cả.

Lúc này số phận cả nhà như “ngàn cân treo sợi tóc”, rơi vào cảnh cực kỳ khó khăn trong 2 năm, đến cái xe đạp thồ cũng không phải bán nốt. Rồi chạy ăn từng bữa, những người phụ nữ trong nhà, trong đó có chị Thương chủ trì đã cấy lúa trở lại để có gạo ăn và duy trì cuộc sống, các em trai thì buôn bán thêm.

Chị Nguyễn Thị Thương và các con

Cả nhà lo lắm, người thân, láng giềng thì khuyên bỏ cuộc nhưng chị Thương lại rất tin tưởng ở chồng bởi thành công đã có nên một dạ động viên chồng tìm cách gây dựng lại.

Có hậu phương vững chắc, anh Vươn lại đi thuyết phục mọi người giúp cho vay để gây dựng lại. Do được thầy cô và bạn bè quý trọng, tin tưởng và phục cái chí lớn, nên anh Vươn đã nhận được rất nhiều sự chia sẻ, hỗ trợ.

Những đêm hai vợ chồng không ngủ được vì nỗi lo giữ đê, anh lại tâm sự và an ủi vợ rằng đây là việc khó, việc lớn nhưng chắc ông trời không phụ người có tâm.

Nghe lời chồng, chị Thương cũng yên tâm phần nào nhưng là phụ nữ vốn yếu đuối, hay lo nên thấy thương chồng nhiều hơn, chỉ sợ anh căng thẳng, mệt mỏi quá mà đổ bệnh sẽ không có ai chèo chống, dẫn dắt, là chỗ dựa cho cả nhà. khi ngủ cũng không ngơi nghĩ về việc.

Khi 3 cháu (Đoàn Thị Hà Thu, Đoàn Xuân Quỳnh và Đoàn Văn Hiếu) đã lớn một chút, chị Thương đã gửi con cho ông bà trông để ra giúp chồng lo việc làm đầm. Nhiều lúc hai vợ chồng nhớ con lắm những phải ghìm lại.

Anh thì ăn bát cơm cũng vội vàng và thường không đúng bữa vì ham việc mà chẳng thấy ngon nhạt gì. Nhiều lần vợ hỏi anh ham việc thế để làm gì cơ chứ khi chẳng có giây phút nghỉ ngơi, anh chỉ cười trừ và mong vợ con thông cảm.

Biết cái chí, cái tâm của anh đã gửi trọn nơi biển cả, nên chị Thương cũng quyết chí ủng hộ, đồng lòng với chồng.

Cực khổ, gian nan gấp bội khi bão tố vào năm 1996, nhiều đêm hai vợ chồng nằm bên nhau trên tấm nilon trong lều lán, giường cũng không có mà nằm. Nằm ôm người vợ nhỏ bé vào lòng, anh Vươn khẽ khàng: “Cái kiếp anh nó vậy, mình chịu khó chia sẻ cùng”.

Và rồi thử thách của thiên nhiên không làm nản lòng người có chí mà còn thôi thúc nhà họ Đoàn nghĩ ra các kế sách chắc chắn hơn để bảo vệ con đê.

Trước đó, để bảo vệ đê, anh Vươn đã cho người trồng cỏ, trồng cói để giữ nhưng không đủ sức trước sóng biển nên phải làm kiên cố hóa bằng việc xây kè đá, xây cống bằng bê tông cốt thép. Từ đó, hàng đoàn tàu thủy, xe chở đất, đá, xi măng được mua về để kiên cố hóa con đê.

Nói về chồng mình, người vợ tần tảo, thủy chung Nguyễn Thị Thương đã nghĩ anh Vươn như con cái đối. Chị Thương nói:

“Anh Vươn luôn nghĩ mình là con cá đối nhỏ bé nhưng luôn đi đầu ngược dòng nước lao ra biển mà chẳng được thưởng chỉ thấy toàn phạt, toàn phải đi đối đầu. Ngày mùng 1 hàng tháng mọi người kiêng dùng cá đối, nhưng anh Vươn luôn nghĩ trời cho mình cái gì thì hãy dùng. Không thể đầu hàng số phận”.

 

Muốn đầm ngày một rộng hơn, biển thì nhỏ lại

Không bao giờ có ý nghĩ dừng lại ở khu đầm bao nhiêu ha, được đồng nào, anh Vươn lại ném xuống biển, muốn biến biển cả mênh mông đằng ngày một nhỏ lại để vùng đầm rộng lớn thêm, đem lại của cải, việc làm cho mọi người. Đây cũng là thực hiện chủ trương khai hoang lấn biển của Nhà nước.

Đến năm 2000, khi khu đầm ngày một rộng thêm, đã đủ sức hứng chịu những cơn bão lớn đã đem lại những đồng tiền phải đổi bằng quá nhiều công sức mới có được.

Ông chủ máy xúc tên Đạt, người Hải Dương quá tin vào anh Vươn đã đầu từ máy xúc cả năm trời, dù chi phí nhiều tiền dầu, tiền công lái xe là rất lớn. Làm đê quai đã khó nhưng làm cống còn kỳ công hơn nhiều.

Ngày nay, ai ra đầm của anh Vươn đều khâm phục việc anh và người thân làm cống lấy nước rất lớn như cống thủy lợi. Ngày nay, để làm được cống lấy nước này phải mất nhiều tỷ đồng và cần tới máy móc thiết bị còn lúc đó chỉ cậy sức người là chính.

Đúng ngày 1/5/2001, vợ chồng anh Vươn cùng gia đình mừng vui tột cùng khi hoàn thành cống lấy nước được bê tông hóa thì cũng đồng thời nhận tin buồn, đứa con gái đầu, cháu Hà Thu không may đã chết đuối ngay tại khu vực đầm mà hai vợ chồng đã bỏ nhiều công sức.

Chị Vươn bồi hồi nhớ lại, lúc đó hai vợ chồng quá sốc bởi thương nhớ con vô vàn mà 8 năm có trên cõi đời, Hà Thu cùng với bố mẹ nếm đủ ngọt bùi, trải qua muôn vàn khó khăn, thiếu thốn. Vừa lau nước mắt chảy dài trên má vì thương nhớ con gái, chị Vươn kể về đứa con gái trầm tính và giống cha như lột.

Nhiều đêm không ngủ được vì thương nhớ con mà anh Vươn thì bị cuốn vào việc làm đầm. “Thương nhớ con lắm nhưng anh vẫn dằn lòng nhưng không dám bộc lộ mà chỉ an ủi động viên vì sợ vợ buồn khổ. Nhiều lúc thấy anh thẫn thờ mình cũng xót xa lắm” – chị Thương bộc bạch.

Thu hoạch được bao nhiêu, anh Vươn lại đem đổ xuống biển nên anh Vươn chẳng dành gì nhiều cho vợ con, đến cái nhà cũng không có mà ở, vẫn ở nhà tạm ngoài đầm, mãi sau này mới kiên cố hóa.

Mãi sau này, anh em trong nhà động viên nhiều lần và góp thêm, anh mới chịu mua cái xe máy để chạy công việc và sắm cái tivi. Thậm chí, đến cái điện thoại cố định cũng do ông chủ máy xúc tặng cho để tiện liên lạc.

Đến năm 2002, đôi vợ chồng nhất mừng yêu thương nhau này mới xây được cái nhà ba gian tươm tất, không còn cảnh dột nát, nhìn thấy ánh trăng sao.

Tích lũy đã có nhưng chưa đủ, anh Vươn lại chia sẻ với vợ phải vay mượn thêm để đầu tư làm cho khu đầm rộng thêm, ngày càng rộng hơn nữa và vững như tường thành.
Đợi anh về…

Đến lúc mát mặt được một chút thì Nhà nước lại ra quyết định thu hồi đầm. Cả nhà cay đắng, hụt hẫng.

Nhưng anh Vươn và cả nhà vẫn tin vào công lý, vào Đảng và Nhà nước vì gia đình đã bỏ quá nhiều công sức để có được diện tích đầm như ngày nay, không thể trồng cây đến ngày hái quả, chưa có thưởng mà đã bị thu hồi, bị phạt. Anh Vươn, cùng vợ một lòng đi khiếu kiện đòi hỏi công bằng.

Trước sự kiện cưỡng chế, cả tháng trời, cả nhà không ăn, không ngủ được còn nặng nề và đau xót, kinh khủng hơn cơn bão 1996 xóa tan mọi thứ gấp hàng chục lần.

Chị Thương chia sẻ sự hẫng hụt, đổ vỡ và uất ức khi ngôi nhà đầm ấm mà hai vợ chồng mất quá nhiều công sức mới có được và là nơi lưu giữ nhiều kỷ niệm của gia đình bỗng chốc bị san phẳng.

Chị Thương nói: “Lấy đất để làm sân bay thì vợ chồng tôi sẵn sàng hiến cho Nhà nước, đằng này lại giao cho người khác làm. Mà huyện, xã, người dân biết rất rõ để có được thành quả hôm nay thì cả nhà tôi gian khó thế nào.

Hơn nữa anh Vươn đã gắn bó với đầm vùng như gia đình, máu thịt mình nên rất muốn khu đầm ngày một phát huy hiệu quả, giúp làm giàu và tạo việc làm cho mọi người. Và nhà tôi vẫn còn nợ nần quá nhiều nếu thu đầm thì biết làm gì để trả”.

Vào thời khắc bên bờ sụp đổ, lửa thử lòng người, hai vợ chồng lại cùng sát cánh bên nhau vượt qua để hướng tới tương lai tươi đẹp, công lý được thực thi. Nằm bên nhau trước ngày 5/1, thời điểm cưỡng chế, anh Vươn nắm chặt đôi tay nhỏ bé của người vợ thân thương động viên:

“Em và các con cứ yên tâm, họ có làm gì thì cũng còn có Nhà nước, có Chính phủ, không thể nào công lý, lẽ phải dễ dàng bị xô đổ như vậy. Bão tố, sóng dữ đã không quật ngã được anh thì sự bạc ác của con người cũng không thể dễ dàng khuất phục được”.

Vậy mà, khi trở lại đầm nhiều ngày sau sự kiện đau lòng, một cảnh tượng xót xa như muốn quật ngã chị Thương nhưng nếu buông xuôi thì cả nhà sẽ gục ngã theo. Chị Thương lại dặn lòng mình phải vững chãi chèo lái con thuyền gia đình qua cơn sóng dữ đợi anh trở về để làm lại từ đầu.

“Đã nhiều lần làm lại từ đầu, nay có Thủ tướng vào cuộc, chúng tôi càng vững lòng để nguyện làm con cá đối lao ngược dòng, quyết biến khu đầm thành của cải để trang trải công nợ và làm giàu. Chỉ mong anh Vươn và toàn bộ người thân được xem xét giảm nhẹ tội để sớm trở về” – chị Thương trải lòng.

Kỷ niệm của hai vợ chồng thì rất nhiều những chị Thương vẫn còn nhớ như in một chuyện. Đêm hôm đó mưa gió rất lớn, gió rít bao quanh ngôi nhà nhỏ bé. Chị Thương nhường chiếc giường nhỏ cho chồng ngủ ngon để có sức lo việc lớn.

Không để vợ lo lắng nhiều cho mình và chịu cực, anh Vươn dứt khoát nhường chỗ cho vợ nằm và nói: “Em còn vất vả hơn anh vạn lần vì lo chèo trống gia đình. Lúc đó chị Thương chỉ còn biết ôm chặt bờ vai vạm vỡ của chồng khóc…”.

Gửi gắm tình yêu thương, nỗi nhớ mong và một lòng một dạ đến chồng, chị Thương thề hẹn: “Xã hội có rất nhiều người hơn anh Vươn. Nhưng trời cho người chồng như anh Vươn là mãn nguyện lắm rồi. Anh cứ yên tâm, ở nhà mẹ con em sẽ vững vàng vượt qua sóng gió đợi ngày anh về”.

(Kỳ I: Chuyện tình của vợ chồng ông Đoàn Văn Vươn )

Theo: Phunutoday

Được đăng bởi culangcat vào lúc 07:59

 

About noihaydung

journalist
This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s