Bác Hồ đến Thái-Lan.

Bác Hồ đến Thái-Lan.


 

Khi  bác Hồ còn sống cũng như khi Bác yên giấc ngàn thu,

Việt kiều Thái đều xem Bác như một vị thánh sống.

 

Tại sao? Vì Việt KiềuThái Lan đã được thấy tận mắt những việc Bác làm. Được biết thế nào là “Tư tưởng Hồ Chí Minh” trong đó Bác đề nghị tất cả mọi người nên tuân theo 7 điều:

“  1- Đặt lợi ích nhân dân lên trên hết.

2-Liên hệ chặt chẽ với nhân dân. Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ.

3- Có khuyết điểm thì phải thật thà tự phê bình trước nhân dân và hoan nghênh nhân dân phê bình mình.

4-Sẵn sàng học hỏi nhân dân.

5-Tự mình phải làm gương mẫu cần kiệm liêm chính để nhân dân noi theo”.

6- Có lực lượng dân chúng việc to tát thì khó khăn mấy làm cũng được. Không có việc gì là không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra. [

7 – Chúng ta phải tẩy rửa những thành kiến giữa các dân tộc, phải đoàn kết thương yêu nhau như anh em một nhà. Nhiệm vụ của chúng ta là phải đào tạo cho giới trẻ biết đến tổ quốc để sau này góp phần mở mang quê hương  và xây dựng nước Việt Nam độc lập yêu quý của chúng ta.

Luôn luôn nêu cao khẩu hiệu tranh đấu cho độc lập của nước nhà nên sau nầy Bác đặt tên cho tổ chức cách mạng là “Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội”, gọi tắt là Việt-Minh !

Từ những năm 1947 khi Bác vẫn còn sống thì đa số Việt Kiều ở Thái-Lan, trong nhà đều lập bàn thờ Tổ Quốc. Trên bàn thờ có quốc kỳ nền đỏ sao vàng và ảnh bán thân của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ở đây, người ta thờ kính Bác Hồ như thể một vị thánh sống. Hơn nữa, Việt kiều ở Thái đã thấm nhuần đường lối yêu nước do Bác đề ra. Đó là tư tưởng Hồ Chí Minh, cho nên vào những năm quân phiệt Thái cầm quyền, họ cho Mỹ đặt căn cứ  U-Tapao, một căn cứ không quân B-52 để ném bom Việt Nam.

Trong năm 1957 đến năm 1961 là những năm bọn quân phiệt cầm quyền ở Thái ra sức khủng bố Việt Kiều ở Thái. Chúng dựng lên một bộ phận riêng trong ngành Cảnh Sát để kiểm tra Việt Kiều. Bộ phận ấy được gọi là “Phanẹc Duôn Ốp-pha-dốp” (Văn Phòng Quản lý Người Việt Tản Cư) do thiếu tá Luổng Hổm Ron Ran chỉ huy, đặt dưới quyền trực tiếp của Thiếu tướng Rath Watthanamahat, chi huy trưởng Cảnh Sát Mật Vụ (Kong Tăm Ruộch Xẳntiban) trực thuộc Cảnh Sát Hoàng gia Thái Lan.

 

Tên Hổm Ron-Ran lấy vợ Việt, người Biên Hoà. Hổm đã từng là người tị nạn chính trị tại Việt Nam thời Pháp thuộc. Sau đó, tên Hổm hồi hương về Thái, không những được phục chức mà còn được thăng một cấp từ Đại úy lên Thiếu tá và được đề cử làm “Trưởng Phòng Người Việt Tản Cư.” Vì  Hổm thông thạo tiếng Việt. Khi đến Việt Nam tị nạn, tên Hổm phải đi đánh xe ngựa (Nài ngựa) làm kế sinh nhai. Nhưng khi có chức quyền địa vị thì y mặc tình thao túng, làm mưa làm gió đối với Việt Kiều. Tên Hổm tổ chức những tên tay sai người Việt mà Việt Kiều gọi là “Việt gian” để đi dò xét những Kiều bào yêu nước ở các địa phương, hoạt động cho Việt Minh. Bắt bớ vô tội vạ những Việt Kiều chúng cho là cán bộ, tống giam họ vào nhà tù Lahủthốt (nhà lao Trung ương ở Bangkok) không được xét xử. Trục xuất một số Việt Kiều về Việt Nam. Đày một số Việt Kiều khác từ miền Đông-Bắc xuống mấy tỉnh miền Nam như  ba tỉnh: Surat Thani, Nakhon Si Thammarat và Phatthalung. Mọi người những tưởng là bị đày đến đây, họ sẽ đói khổ. Nhưng nào ngờ, với sự cần cù, siêng năng và đoàn kết, Việt kiều bị đày đến đây đa số làm ăn khấm khá, một số trở nên giàu sang phú qúi.

Trong thời gian đấu tranh với nhóm quân phiệt cầm quyền tại Thái-Lan, phụ nữ  đã đi  tiên phong đấu tranh, có nhiều thành tích và chống đối quân phiệt Thái bằng nhiều cách như: đa số Con Gái Việt Kiều có mớ tóc đen huyền trông rất đẹp, bỗng một người nào đó, nằng nặc đòi cạo trọc đầu để phản đối việc chính phủ Thái đàn áp và khủng bố Việt kiều yêu nước. Đấy là một trong những phương cách nhân dân đấu tranh với một chính quyền độc tài, quân phiệt. Phương thức đấu tranh hấp dẫn khác là bảo nhau nằm ngang đường cái, chận không cho xe bắt người (Việt kiều) lăn bánh, làm lay động tình người, giữa mối thiện cảm của nhân dân Thái đối với Việt kiều. Cảnh Sát Thái phải huy động cả đại đội, vất vả lắm mới dẹp được việc tranh đấu nầy của phụ nữ Việt kiều.

Những cung cách đấu tranh của Phụ nữ Việt kiều ở Thái làm tăng thêm uy tín của người Việt trong công cuộc kháng chiến giành độc lập của Việt Nam nói chung,và nói riêng, làm tăng thêm mối thiện cảm giữa nhân dân Thái đối với Việt kiều.

Wat Lôka-Nukhrọ (Chùa Từ Tế ở khu phố Tàu – Daovarat) là nơi Bác Hồ tới đầu tiên.

Ông Liên, là người được phân công ra bến tàu Klong Teui đón Bác. Ông là cán bộ duy nhất đã nhập quốc tịch Thái, ông có tên Thái là Praseuth Phutphongxảy. Cho nên Việt Kiều thường gọi ông là  ông Xợt.

Theo lời kể của ông: “Tôi rât lấy làm vinh hạnh được các anh em đ/c cử đi đón Bác”.Tôi chưa có cơ hội được gặp Bác bao giờ, nhưng được nhìn ảnh thì thấy Bác có điểm khác người là đôi mắt Bác sáng ngời, ít có người trên thế gian có được cặp mắt tinh anh như thế. Tôi đến bến tàu từ sáng sớm, chờ mãi đến quá hai giờ chiều mới thấy ba, bốn người có vẽ là người Á châu từ trong toà nhà “Hải Quan” bước ra. Từ sáng đến giờ, tôi chưa ăn gì nhưng cảm không thấy đói vì hồi hộp nên không biết đói là gì? Tôi bước nhanh lại gần nhóm bốn người Á châu; tôi nhận ra Bác ngay,cũng nhờ nhìn vào đôi mắt của Bác. Tôi chào Bác và cảm động ôm chầm lấy Bác. Bác vỗ vai tôi hỏi:  “Các bà con Việt kiều và các đ/c mạnh khoẻ cả?” Tôi đáp: “Dạ.  được bình yên cả nhưng anh em lo lắng việc Bác đến đây ”. Bác nóí : “Cứ yên tâm. Bây giờ thì đ/c dẫn tôi về đâu?”. Tôi thưa với Bác : “Về một ngôi chùa ở Bangkok tên Việt là chùa Từ Tế, tên Thái gọi là.Wat Lôka-Nukhrọ.  Chùa nầy do người của mình làm trù trì”.

Tôi dẫn Bác ra bến xe ngựa, thuê một cổ xe về  phố Tàu Daovarat, chùa ở gần đó. Hành lý của Bác không có gì ngoài chiếc cặp da đựng quần áo và một mớ sách. Thuở ấy, Bangkok chưa có xe hơi nhiều. Đi đâu xa trong thành phố người ta vẫn dùng xe ngựa. Xe chạy cũng gần hai giờ đồng hồ mới đến chùa. Nhờ tiếng lục lạc của ngựa nên ông Bá cùng sư Ba biết Bác đã đến nên hai người ra ngoải đón Bác.

Sau ba ngày trò chuyện với nhau và nghe báo cáo tình hình hoạt động. Bác nói với chúng tôi, đồng thời Bác trãi ra tấm bản đồ nước Xiêm trên bàn (thuở ấy Thái còn gọi là Siam). Bác phân tích cặn kẽ: “Chúng ta chưa thể về Udon ngay, vì nơi ấy gần Nong Khai, chắc thể nào cũng có tai mắt mật thám Pháp Chúng ta phải tìm một nơi khác để bọn mật thám Pháp và cả bọn mật thám Thái không ngờ tới” Bác chỉ vào bản đồ và  hỏi anh Bá.  “Vậy ở Phichit hay Phiksanulok có người tin cậy của mình không”? Ông Bá thưa: “Cả hai nơi đó đều có nguời của mình có thể tin cậy được”. Bác quyết định: ”Nếu vậy, đ/c Xợt dẫn tôi đi Phichit. Còn đ/c Bá về Udon đưa tin”.

Tỉnh Phichit. Điểm cứ trú tạm thứ hai trên đất Thái của Bác Hồ.

Vậy là ngày hôm sau, ông Bá mua vé xe lửa về Udon.  (Miền Đông-Bắc) Còn tôi và Bác thì đáp xe lửa đi Phichit (đường xe lửa dẫn lên miền Bắc-ChiangMai).

Trước khi đi Phichit Bác tâm tình với Sư Ba nhiều chuyện trong đó toàn là chuyện công tác, hoạt động cứu nước. Luôn dịp nầy, tôi (người viết là cháu họbên ngoại của ông Đạt, tức Ông sư Ba) cũng muốn trình bầy sơ qua về vị sư trù trì Wat Lôka-Nukhrọ.

Ông sư  Ba tên thật là Phạm Ngọc Đạt, pháp danh là Bình Lương. Năm 22 tuổi, ông Đạt ở Hương-Sơn, Hà Tĩnh bị Pháp truy nã về tội hoạt động CS; ông phải tìm đường chạy trốn sang Xiêm (Thái). Tại đây, ông được Hoà Thượng Hạnh-Nhân, trù trì chùa Khánh Anh ở vùng Bang-Xừ (ngoại ô Bangkok) thu nhận làm đệ tử nhà Phật. Sau nhiều năm tu tập tích cực, nhà sư Bình-Lương được hoà thượng Hạnh-Nhân dẫn dắt nên lập được một ngôi chùa mới ở vùng Daovarat (Phố Tàu). Chùa này có tên Việt là Từ Tế (cứu trợ, từ thiện) dịch sang tiếng Thaí là Wat Lôka-Nukhrọ. Nhờ thông thạo chữ Nho nên sư Ba được nhiều thương buôn người Hoa trong vùng kính nể nên họ cúng dường tiền bạc rất nhiều; chẳng bao lâu chùa được trùng tu khá lớn. Chùa có đất rộng nên sư Ba cho cất lên một dãy phố. Nhờ vào số tiền cho thuê phố hàng tháng nên chùa có lợi tức thường xuyên.

Kể từ sau năm 1931, sau Phong Trào Xô-Viết Nghệ An, sư Ba đã giúp nhiều đồng hương Nghệ Tĩnh tiền bạc để sinh sống khi mới qua Xiêm. Và sau  khi  thành lập Đảng bộ Việt Kiều Thái Lan, sư Ba không những đóng góp tiền bạc mà cả công sức trong công cuộc cách mạng cứu nước. Ngoài ra, chùa Từ Tế (mà Việt Kiều thường gọi là chùa Ông Ba) là nơi trú ngụ và ẩn náu tạm thời và cũng là trạm liên lạc của tổ chức Cách Mạng Việt Kiều yêu nước. Ngay sau ngày Nam Bộ kháng chiến, ông TrầnVăn Giàu cũng đến đây tá túc một thời gian trước khi ra Bắc bằng đường bộ Thái-Lào. Tiền dành dụm được bao nhiêu, Sư Ba đã cúng dường, dốc hết tiền có được để mua vũ khí võ trang cho Bộ Đội Việt Kiều mang súng đạn (trong đó có nhiều F.M đầu bạc và nhiều đại liên, thompson, carbine, súng trường và đạn, lưu đạn v.v…. về tiếp tế cho mặt trận Nam Bộ với những đợt: Chi Đội Trần Phú, Cửu Long I và Cửu Long II. Ngoài ra, chùa ông Ba còn là nơi trú ngụ tạm thời cho những Việt kiều ở các nơi vào thủ đô Bangkok kiếm việc làm.

Một điều hãnh diện khác, Sư Ba được vua Rama VII và vua Rama IX (vua đương thời) khen tặng vì có công đóng góp cứu trợ lũ lụt, thiên tai cho nhân dân Thái. Khi về già, Sư Ba lúc đó thọ 83 tuổi, ông có nguyện vọng hồi hương để được chết trên quê hương Việt Nam. Hội Hồng ThậpTự Thái đã tổ chức một chuyến bay đưa ông về nước. Trong khi nằm dưỡng bệnh tại bệnh viện Việt-Xô, ông được Bác Hồ đích thân vào thăm viếng vài lần. Ông Ba, tức hoà thượng Bình-Lương viên tịch ngày 20/04/1966, thọ 84 tuổi. Tang  lễ được cử hành trong thể tại chùa Quán Sứ, thủ tướng Phạm Văn Đồng thay mặt Hồ chủ tịch đến đặt vòng hoa phúng điếu.

Lúc ông Ba còn tại thế, tác giả bài viết đã được ông Ba thuật cho nghe là Bác Hồ là một nhân vật kỳ tài, có nhiều đức độ mà nhiều vị lãnh tụ ở các nước khác không có được. Ông kể: Bác đi đến đâu cũng được bà con Việt Kiều kính mến vì Bác sống rất cởi mở, bình dân; nói chung là Bác Hồ có “quan điểm quần chúng rất cao”. Ngay như, Bạn Nỏng Xẻng là một làng thuần thành công giáo thuộc tỉnh Nakhon-Phnôm. Vậy mà Bác đã đến đó một mình trực tiếp tổ chức, gây cơ sở, không qua trung gian hay qua sự  giúp đỡ của người thứ  hai? Bất kỳ đến nơi nào Bác cũng sống hoà đồng với tất cả mọi người là cùng ăn, cùng làm và cùng hưởng như Bác đã từng cuốc đất, làm vườn, trồng cây ăn quả; đặc biệt là trồng rau, nuôi gà, nuôi heo trong kinh tế tự  túc. Đi đến đâu ở Thái, Bác cũng không quên dựng lớp học Bình Dân Học vụ choViệt kiều. Ngoài ra, Bác đã tự tay viết báo, huấn luyện, tổ chức cán bộ và cũng nhờ đó mà cán cán bộ được Bác chọn lựa, sau nẩy trở thành những cán bộ cao cấp lãnh đạo Việt Kiều và cũng nhờ vào cơ sở có sẵn nên sau nầy mới có Pathêt Lao và Issarak Khmer.

Trở lại việc Bác đến ở Phichit, một tỉnh miền Trung Thái, ở đây trong vòng một tháng. Bác bắt đầu huấn luyện cho những cán bộ nòng cốt sau nầy trở thành Ban Cán Sự Đảng của Đảng bộ Việt Kiều tại Thái Lan. Để giữ  bí mật, Ban Cán Sự nầy được gọi nôm na là “Tổng Ủy”. Những cán bộ được Bác huấn luyện và đào tạo tại Thái gồm có ông Hoàng Văn Hoan, sau đấy được cử về Trung quốc công tác và về sau nầy ông Hoan đựợc đề cử làm Đại sứ Việt Nam đầu tiên tại Trung quốc. Ông Lê Tri Bá làm Ủy viên Thường Vụ tại Bangkok kiêm Ủy Viên Liên Lạc với Đảng CS Trung quốc. Ông Phạm Văn Xô, ông Nguyễn Văn Chấn , Bí thư và Phó bí thư…. sau nầy về nước giữ các nhiệm vụ trọng yếu.

Để giữ bí mật, Bác đề nghị phải có một nơi cư trú an toàn để phát triển tổ chức. Nơi được chọn là Bạn Nỏng Ổn nằm ở vùng ngoại ô tỉnh Uđon (Udonthani). Thế là một cuộc hành trình bí mật bằng đường bộ tử Phichit đến Nỏng Ổn (Uđon) được bắt đầu. Tính ra, phải đi những 17 ngày đường bộ. Ngày đi, đêm nghỉ. Trong lúc đi đường Bác lấy đòn gánh tự gánh lấy. một đầu là cái cặp đựng áo quần, và đầu bên kia là một mớ sách báo để Bác nghiên cứu bỏ trong cái túi vải. Các anh em đ/c nói thế nào, năn nỉ cách mấy, Bác vẫn không chịu để cho ai gánh giúp. Bác nói: “Tôi vẫn còn sức, còn chiụ đựng được.Khi nào đau ốm hãy tính sau”. Thế là Bác, một mình một gánh đi bộ 17 ngày liền  không hề mở miệng than mệt nhọc. Ai ai cũng cảm phục lòng nhẫn nại, sự quyết tâm và tính bình dân của Bác.

Nỏng Ổn là điểm đến thứ ba của Bác Hồ.

Đến Nỏng Ổn, việc đầu tiên là phải làm một cái nhà để ở. Bác cũng cởi trần làm việc đều đặn như mọi người cho đến khi làm xong hoàn thành ngôi nhà này. (Hiện ngôi nhà được Việt Kiều ở Uđon trùng tu, giữ làm kỹ vật).

Ở đây, người ta chỉ biết Bác qua lời giới thiệu Bác là một nhà thầu tên là Chín (không phải Chính). Và từ đấy người ta gọi Bác là “Thầu Chín”. Tại Nỏng Ổn, Bác vận động bà con Việt Kiều trồng rau, ngô, đậu … Không  phải vận động bằng mồm mà sáng nào Bác cũng ra vườn cuốc đất, trồng  rau. Thức khuya, dậy sớm. Sáng nào Bác cũng dậy sớm tập thể dục.

Ở đây, Bác ra một tờ báo lấy tên là “Thân Ái”.Báo nầy được in bằng thạch và gửi đi cho các cán bộ ở các điạ phương để học tập và trao đổi tin tức.

Thật ra, mục đích của Bác ở Nỏng Ổn là huấn luyện cán bô, tổ chức nòng cốt đặt thành Đảng bộ Việt Kiều.

Địa điểm chót, nơi Bác Hồ đến là Bạn Nachok (làng Na-chọc  thuộc tỉnh Nakhon-Phnôm)

Ở Nỏng Ổn gần cả năm trời. Trọng tâm đã đạt được. Các anh em đ/c những tưởng là Bác sẽ ở đây lâu, nhưng không ngờ một hôm Bác cho biết Bác sẽ phải đến ở Nakhon-Phnôm, một tỉnh nằm dọc theo sông  Mékong, đối diện với thành phố Thakhek của Lào. Mục đích Bác đến Nakhon-Phnôm là để bắt liên lạc với trong nước. Nếu kể các con đuờng bộ từ Lào về Việt Nam thì không có con đường nào rút ngắn thời gian bằng con đường từ Thakhek đi Xóm Cúc, rồi từ đó đi đến thành phố Vinh (Nghệ An). Biết Bác gần đi Nakhon-Phnôm nên các đ/c cán bộ đã cho người đến đó móc nối để chuẩn bị chỗ ở cho Bác.

Bác căn dặn:”Không nên chọn chổ ở trong tỉnh”. Vì thế cho nên các đ/c đã chọn Bạn Na-Chok (Làng Na Choọc). Làng nầy nằm trên lộ 22 ngay cây số 237 trên đường từ tỉnh Sakon-Nakhon đến tỉnh Nakhon-Phnôm. Thật  ra, nó là một làng vắng vẻ vì ở đó không có gì ngoài mấy ngôi chùa nhỏ và một nghĩa điạ âm u. Ở đây có cả chục gia đình Việt kiều sinh sống bằng nghề trồng rau.

Hôm Bác rời Nỏng Ổn, có thêm ông Thắng và ông Hoàng Văn Hoan đi theo Bác. Từ Uđon đi Nakhon-Phnôm. Bác ghé xuống Sakôn-Nakhon thăm hỏi bà con Việt kiều ở đây cho biết sự tình. Ngày hôm sau, Bác lại lên đường đi đến Ban Na Chok. Nơi đây, là một làng rất nhỏ, dân chúng thưa thốt sống bằng nghề nông. Bác được giới thiệu tên là Thọ, một nhà buôn tre, nứa, gỗ, lạt. Vì đã có sự sắp xếp từ trước nên đến nơi Bác có nhà ở ngay, nhà đấy là một căn nhà trống của một Việt Kiều qua Lào làm ăn.

Ở Bạn NaChok được vài ngày, Bác đi bộ đến Bạn Nỏng Xẻng thăm bà con ở đây. Bạn Nỏng Xẻng là một làng thuần thành “công giáo”. Họ là nạn nhân của thời vua Tự Đức sát đạo ở thành phố Vinh (Nghệ An), họ phải chạy trốn qua Xiêm. Đến Nakhon Phnôm họ được chính phủ Xiêm cấp đất cho định cư và lập thành làng Nỏng Xẻng ngày nay. Đối với Bác Hồ, không có việc gì khó. Tuy gọi là người công giáo thuần thành, nhưng bà con ở đây không  đến nỗi cuồng tín. Tại đây, chỉ ở có vài tháng mà Bác đã tổ chức được cơ sở cách mạng. Sau nầy, Nỏng Xẻng trở thành một cơ sở vững chắc của ta ở vùng Đông-Bắc Thái. Nó cũng là nơi tạm trú bí mật cho cán bộ từ Liên khu IV qua.

Nói về ông Hoàng Văn Hoan, ông được Bác trao nhiệm vụ mới cho ông ấy:

1-      Trên đuờng về, sang Thakhek (Lào) tổ chức đường giây liên lạc với Thái và Việt Nam.

2-       Về Việt Nam liên lạc với nhóm Cách mạng ở đây cho họ biết là Bác đang ở Thái.

3-       Qua đặt cơ sở ở Quảng Tây và chờ Bác ở đó.

Bà con Việt kiều ở Chiang-Mai (bắcThái) không ai lạ gì ông “Kăm-Năn Viện”. (Kăm-Năn là Chánh Tổng). Ông Nguyễn Văn Viện, người Thạch Hà, Hà Tĩnh cũng bị Pháp truy nã vì vào Hội Kín. Ông phải chạy qua Xiêm tá túc. Ông Viện là một trong những người được Bác Hồ tổ chức, huấn luyện và sau đấy được giao công tác đặc biệt không liên quan đến Việt Kiều. Ông bị nghi ngờ là người “phản đảng” nên được chính phủ Thái ban cho chức Kăm-Năn (ChánhTổng). Có lần ông Viện tâm sự với tôi: “ Trong thiên hạ có ít người nào tài cán như Bác Hồ. Bác liệu việc như thần. Việc cả mấy chục năm về  sau mà Bác đoán ra và căn dặn tôi đừng thối chí, bất mãn khi gặp những việc như vậy”  …

Ngoài vấn đề liên hệ với Việt Kiều, thỉnh thoảng cũng có một vài người Thái đến thăm Bác. Anh em đ/c đều bội phục sự thông minh của Bác. Sống  ở Thái chưa đến hai năm mà Bác đã viết được chữ Thái, nhất là thuộc  những danh từ chính trị.

Cảm tình của nhân dân Thái đối với Bác Hồ.

Những người Việt Nam nói chung, và nói riêng Việt Kiều tại Thái Lan đã nói lên sự biết ơn của chúng ta đối với nhân dân Thái. Nhân dân Thái lúc nào cũng ủng hộ nhân dân Việt Nam trong công cuộc kháng chiến giành độc lập. Viết đến đây, tôi nhớ lại năm đầu năm 1946, mấy tháng, trước khi Việt Kiều ở Lào tản cư qua Thái thì một trận đánh xẩy ra giữa một Trung Đội quân Xung Phong Việt Minh với một Đại Đội Commandos của Pháp.  Đó là trận “Tao ngộ chiến” mà quân số của hai bên rất chênh lệch. Lực lượng của Pháp có một Đại Đội; ngược lại, phe ta chỉ có một Trung đội Trong lúc hai bên đánh nhau ở triền bờ sông Mékong thuộc bến Tha Deua (Thà-Đừa) cách thủ đô Vientiane 21 kms thì  dân chúng Thái bên kia bờ sông ở Nong-Khai (Nỏng Khai)  nhìn thấy rõ. Nỏng-Khai của Thái, đối diện với Thà-Đừa của Lào. Dân chúng Thái lấy ống nhòm trông rõ mồn một quân lính Pháp nấp ở đâu: sau gốc  cây nào, sau mô nào ? … Họ bắc loa nói lớn, báo cho quân Xung Phong Việt Kiều biết quân Pháp núp ở đâu để cho quân Xung phong bắn vào chỗ đó. Thế là đạn Bích kich pháo cùng lựu đạn phóng ngay đến chỗ quân Pháp núp. Nếu thấy nơi nào bắn trật thì họ hô to trong loa. Nhờ thế mà trong vòng nữa giờ đồng hồ quân Pháp bị thiệt hại nặng. Chúng phải mau chóng rút chạy, không kịp lấy xác đồng bọn. Trận đánh Tha Duea là một thắng lợi của Việt Minh và dân chúng Thái cũng vui mừng lây.

Vào năm 1946, năm Việt Kiều ở Lào thực hiện chính sách vườn không nhà trống, ùn ùn tản cư sang Thái được chính phủ Thái dưới quyền Thủ tướng Priđi – Phnômyông  tận tình giúp đỡ Việt kiều nhiều mặt như lấy các trường học cung cấp làm nơi cư trú tạm cho Việt Kiều, cung cấp thuốc men; nhất là tạo công ăn việc làm bằng cách cho đắp đê ở ven sông Mékong để Việt Kiều có kế sinh nhai.

Thái là một nước xẩy ra nhiều cuộc đảo chính nhất thế giới. Và phần nhiều các chính phủ trước đây đều do quân phiệt Thái cầm quyền. Họ khủng bố Việt Kiều với nhiều phương cách, nhưng ngược lại nhân dân Thái lại ủng hộ Việt Kiều. Một phong trào kết bạn, tiếng Thái gọi là “xiều” được phóng  ra. Nhiều bạn bè người Thái chứa chấp bạn Việt của mình trong nhà khi bị chính phủ quân phiệt Thái khủng bố, truy nã.

Nhờ mối thiện cảm đã có từ trước của nhân dân Thái đối với công cuộc kháng chiến giành độc lập, nhờ uy tín của Bác Hồ đối với thế giới cho nên về sau nầy, và hiện nay những nơi Bác Hồ đến ở Thái đều được chính quyền điạ phương hổ trợ và được chính thức công nhận đó là những di tích của Bác Hồ để lại.

–          Ông Sukprida-Phnômyông con trai của cố thủ tướng Priđi-Phnômyông, là người sưu tầm viết một quyển sách rất công phu, để cao sự nghiệp tranh đấu giành độc lập của Bác Hồ.

–          Tổng Biên Tập báo Sarn Seri, ông Thanông Sratthathip cũng viết về  Bác Hồ và đề cao công cuộc kháng chiến của Việt Nam trên báo.

–          Nhà báo Srỉphnôm Sỉngthong của báo Êkapháp cũng viết một quyển sách đề cập đến Bác Hồ.

–          Tiến sĩ Artha Nantachukra, giáo sư  trường Đại học MahảSarakhăm là chủ tịch Hội Thân-Hữu Thái-Việt đã bỏ ra rất nhiều thời giờ và tâm huyết của mình để xây dựng hội. Ngày 21/02/2004 một nghi lễ khai mạc Hội Thân Hữu Thái-Việt được cử hành long trọng tại Bạn Nachok, Nongyat, tỉnh Nakhon-Phnôm có cả truyền thông quốc tế đến dự và quay phim. Trong buổi lễ, Tiến sĩ Artha đã giới thiệu ông Nguyễn Văn Tiêu, người giúp việc cho Bác Hồ khi Bác đến ở Bạn Nachok trước đông đảo quan khách. Ông Tiêu được đài truyền thanh và truyền hình địa phương phỏng vấn nhiều điều liên quan đến Bác Hồ và thu hình ngôi nhà của Bác Hồ ở trước đây. Hiện ở Nỏng Ổn thuộc tỉnh Uđon và Bạn Nachok thuộc tỉnh Nakhon –Phnôm là những nơi Bác Hồ để lại di tích.

–             Tôi rất lấylàm tiếc là không có cơ hội sưu tra được hết những gì  nhân dân Thái viết về Bác Hồ. Để kết luận bài viết nầy. Tôi xin đưa ra cảm tưởng của một trong những người Thái tên Nit Na Nakhon viết về Bác Hồ với lời văn rất mộc mạc, bình dị nhưng sâu sắc ./.

–                                                       Tôi xin tạm dịch như sau:

ลุงโฮตายวันนี้ วันชาติเวียดนาม

ลุงโฮตายวันนี้ วันชาติเวียดนาม

ด้วย ความเคารพจากดวงใจ

ด้วยความยิ่งใหญ่ของนักสู้ร่างเล็ก

ด้วยความรักและความผูกพันต่อแผ่นดินเกิดความตายไม่อาจทำให้ลุงโฮ แห่งประชาชาติเวียด สูญหายในกาลเวลาได้

วันนี้ 2 กันยายน เป็นวันชาติเวียดนาม

เป็นวันอันยิ่งใหญ่ในการประกาศนามแห่งอิสรภาพของชาติ  ด้วยเสียงของ โฮ จิ มินห์

และเป็นวันตาย เมื่อ 2 กันยายน 1969

ใน ท่ามกลางเรื่องเล่าวัยเด็ก พวกเวียด ไม่ได้ยิ่งใหญ่กว่าแผ่นดินไทย ในท่ามกลางไฟสีแดงแห่งสงครามอันหวาดกลัว คนไทยมากมายกลัวคอมมิวนิสต์ แม้มิรู้ว่า คอมมูนิด คอมมูหน่อย คืออะไร แต่ความกลัวที่ฝังใจได้สร้างคำถามในใจมากมาย

หลังการเรียนรู้ หลังอ่านออกเขียนได้

ความจริงในการรับรู้ อยู่ในตัวเรา

หลังความจริงในความเข้าใจที่ได้เห็นภาพอันยิ่งใหญ่

ชาย เวียดคนหนึ่งที่ได้มีโอกาสร่ำเรียนยังปารีส ชายผู้ซึ่งถูกจับกุมคุมขัง เป็นนักโทษการเมือง ที่มีความมุ่งมั่นอย่างแรงกล้า ในการต่อสู้เพื่อแผ่นดิน

ลุงโฮ แห่ง แผ่นดินเวียดนาม

Bác Hồ mất ngày nầy – Ngày quốc khánh Việt Nam.

Với lòng kính trọng từ con tim. Với sự tranh đấu không ngừm nghỉ của một người có thân hình mảnh khảnh. Với ý chí sắt đá và với lòng yêu nước vô bờ bến. Cái chết của Bác Hồ không làm cho nhân dân Việt Nam vĩnh viễn mất đi. Hình ảnh Bác vẫn hiện diện mãi mãi với thời gian. – Ngày nầy là 2 tháng 9 là ngày quốc khánh Việt Nam. Cũng là ngày trọng đại giải phóng đất nước với lời tuyên bố độc lập mà Bác Hồ đã tuyên xưng.

Trong những chuyện khi còn bé thơ – Bọn Việt không sao lớn bằng đất nước Thái. Giữa muôn trùng của những ánh lửa đỏ của chiến tranh khũng khiếp, đa số dân Thái sợ Cộng Sản. Nhưng họ đâu có biết Cộng Sản là cái quái gì ? Nhưng cái sợ đã giấu kín tạo thành câu hỏi ray rứt diễn tiếp thôi thúc trong tim.

Sau khi biết đọc, biết viết, được giác ngộ.

Hiểu được sự việc cũng như biết được sự thật như thế nào?.

Với sự thật khi thấy được hình ảnh vĩ đại một chàng trai trẻ Việt Nam có được cơ hội đến Paris học tập, chàng trai đó bị tù đày vể tội chính trị với mục đích tranh đấu không mỏi mệt trong chiến đấu để giải phóng quê  hương. Đó là Bác Hồ của Đất Nước Việt Nam !

California, những ngày cuối tháng Giêng 2011.

LÊ TRỌNG VĂN.

Phụ-chú :

Lẽ ra bài viết nầy đã được phổ biến từ lâu, nhưng vì tác giả bị “tai biến mạch máu não” bất ngờ nên bị chậm trễ. Hơn nữa, tác giả đã để lạc cái đĩa có bài viết; nay mới tìm lại được.

Những sự kiện về “Bác Hồ ở Thái” do tác giả được nghe các ông Sư Ba, ông Lê Tri Bá, ông Xợt, ông Thắng và ông Nguyễn Văn Viễn … kể lại. Phần khác, do sưu tầm từ những tài liệu báo chí Thái trong đó có Tổng biên tập báo Sản Sểri, ông Thanông Srătthathip, nhà báo lão thành Srỉphnôm Sỉngthong, báo Êkaphap; nhà nghiên cứu Sukprida Phnômyông,  và ông Artha Nantachukra, giáo sư Đại học Mahảrarakhăm viết về Bác Hồ./.

About noihaydung

journalist
This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Có 1 phản hồi tại Bác Hồ đến Thái-Lan.

  1. Hoàn nói:

    Kính gửi Bác Lê Trọng Văn, bác viết bài viết trên đây thật tỉ mỉ, cháu xin hỏi rằng bác có được chứng kiến một phần nào trong chuỗi lịch sử nói trên hay không? hay là bác chỉ nghe ác ông Sư Ba, ông Lê Tri Bá, ông Xợt, ông Thắng và ông Nguyễn Văn Viễn … kể lại ạ?

    Khi Bác Hồ đến Thái Lan thì tôi còn nhỏ và không được chứng kiến tận mắt.
    Nhưng tôi đã gặp những người trong cuộc. Nhất là Kiều bào ơ Thái Lan nữa, có thể là Việt Kiều Thái Lan đều có chung một đức tính “thật thà” với những “hậu bối” có lòng với Đất Nưóc (Tổ Quốc) như tôi. Hơn nữa Sư Ông Ba lại là người có họ hàng với tôi. Ngoài ra, ông Lê Tri Bá là người tôi kính mến nhiều.
    Cộng với việc nghiên cứu công khai và minh bạch nên tôi ghi nhận là có thật 100%.
    Có điểu đặc biệt là những cán bộ cao-câp sau kh Bác Hồ không còn nữa, họ mượn tên tuổi Bác ….
    Những gì thuộc về Bác Hồ là của chung của nhân dân và Đất Nước Việt Nam. Thế mà, có nhiều cán bộ thường hiểu lầm rằng họ có toàn quyền và độc quyền về Bác Hồ ….
    Tôi rất tiếc rằng Bác Hồ không có “truyển nhân” như chủ tịch Fidel Castro của Cuba, hay Kim Nhật Thành của Triều Tiên. Nếu có thì nước Việt Nam đã không sợ bá quyền Bắc Kinh và không có 16 chữ vàng …
    Ông bà mình thường nói: “Thờ Bụt mới được ăn oản”.
    Ngày nay người ta thường hay nhăc đến “Tư Tưởng Hồ Chí Minh”, nhưng lại làm trái ngược với lời dạy của Bác Hồ là xa rời và hoàn toàn không có ‘Quan Điểm Quần Chúng” !
    Qúy vị hãy xem các việc sau đấy đi ngược lại với tư tưởng Bác Hồ:
    1- Ở Nghệ An là nơi quê hương Bác, quê hương của Xô Viết Nghệ; nơi đấy một thời anh hùng áo vải Nguyễn Huệ tức vua Quang Trung muốn dời đô đến đây. Và cũng tại đây, Bác Hồ đã làm mấycâu thơ đế cao anh hùng Nguyễn Huệ.Mấy câu thơ đó được làm thành một cái bia đá.Vì sợ bọn Tàu mà người ta đã có gan dán một bia khác đè lên một bia có bài thơ Bác Hố viết. THẾ LÀ THẾ NÀO ?
    2- Ở thành phố Đà-Lạt trong đồi Mộng Mơ, họ đã làm bắt chước bức tường của “Vạn Lý Trường Thành” bên Tàu.Bức tường dài 300 mét có cà hình tượng quan Tàu trong đó.
    Hỡi ôi ! Người ta muốn bắt con dân Viêt Nam phải nhớ đến lịch sử Trung Hoa (Tàu Phù) và đế cao Tàu như thần thánh.
    3- Ở Bình-Dương còn xây đặc biệt một dãy phố dành riêng cho người Tàu ở buôn bán. Cái đó là sợ hay vọng ngoại; trong lúc bọn bá quyền Bắc Kinh chủ trương xâm lăng Việt Nam ?
    Viết thay cho Bác Lê Trọng Văn.
    Lê Thị Bạch Tuyết.
    tuyetl.741@gmail.com

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s